BANER FLASH
GIÁ VÀNG
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
GIÁ CÀ PHÊ
CHỨNG KHOÁN
  
Widget by songvuikhoe99  

HINH 1

Giới thiệu tổng quan Gia Lai I. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Gia Lai là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, có toạ độ địa lý từ 12058’28” đến 14036’30’ độ vĩ Bắc, từ 107027’23” đến 108054’40” độ kinh Đông, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, ...

HINH 2

Di tích lịch sử- văn hoá Tây Sơn Thượng Đạo An Khê Đình (Đình ngoài) Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do anh em nhà họ Nguyễn lãnh đạo bùng nổ năm 1771. Vùng núi rừng An Khê, Kbang của Gia Lai trở thành căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính từ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo này, đại quân của cuộc khởi nghĩa đã tràn xuống đồng bằng

HINH 3

Kiến trúc nhà rông Nhà rông được xây dựng rất lớn, bề thế, được trang trí đẹp là nơi gặp gỡ bàn bạc của các đại diện gia đình (là đàn ông) với già làng để giải quyết những công việc liên quan đến mọi thành viên trong buôn làng, là nơi tổ chức các lễ (lễ đâm trâu, lễ sửa nguồn nước, lễ bỏ mả, lễ chiến thắng…).

HINH 4

Nhớ Anh hùng Núp Theo giấy tờ, Anh hùng Núp sinh năm 1914 và đến đầu tháng 7 tới đây, sẽ chẵn 10 năm, kể từ ngày ông mất. Những người dân Gia Lai hồi đó, hẳn chưa quên tang lễ ông, một đám tang đông đúc lạ thường, nếu không muốn nói là kỷ lục về số người đi đưa. Có lẽ, chỉ cần nêu lại con số 178 vòng hoa viếng thôi cũng

HINH 5

Đồi Thông Đăk Pơ Đồi thông Đak Pơ. Đak Pơ được thiên nhiên ưu đãi một khu rừng thông tự nhiên và thảo nguyên cỏ tranh cạnh bên đã tạo nên một vị trí thật hấp dẫn cho đầu tư khu du lịch tại đây, vùng đất này thường được gọi là “Đồi thông Đak Pơ”. Là một rừng thông tự nhiên có hơn 40 năm tuổi, có mật độ khoảng 500 đến 600cây/ha, đường kính cây khoảng 40cm trở lên,

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

DI TICH LICH SU - VAN HOA TAY SON THUONG DAO


Di tích lịch sử- văn hoá Tây Sơn Thượng Đạo

 
An Khê Đình (Đình ngoài)
An Khê Đình (Đình ngoài)
Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do anh em nhà họ Nguyễn lãnh đạo bùng nổ năm 1771. Vùng núi rừng An Khê, Kbang của Gia Lai trở thành căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính từ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo này, đại quân của cuộc khởi nghĩa đã tràn xuống đồng bằng cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng Đống Đa lẫy lừng, quét sạch 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, giành lại độc lập cho tổ quốc. Đây là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử truyền thống đấu tranh yêu nước của nhân dân các dân tộc Gia Lai.

Các anh em nhà Tây Sơn mà tiêu biểu là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã lập được mối quan hệ anh em giữa người Kinh và người Thượng, tập hợp được các dân tộc Bắc Tây Nguyên ở vùng Tây Sơn Thượng đạo như người Bahnar, Jrai vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Ngày 14-6-1991 quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo đã được Bộ VH- TT cấp bằng Di tích lịch sử văn hóa, quần thể gồm 6 di tích liên quan đến cuộc khởi nghĩa của người Anh hùng áo vải Quang trung - Nguyễn Huệ: An Khê Đình, Gò Chợ, hòn đá Ông Bình, hòn đá Ông Nhạc, Vườn mít- Cánh đồng Cô Hầu, kho tiền- nền nhà ông Nhạc.
Nguồn baogialai.vn

KIEN TRUC NHA RONG


Kiến trúc nhà rông

 
Nhà rông được xây dựng rất lớn, bề thế, được trang trí đẹp là nơi gặp gỡ bàn bạc của các đại diện gia đình (là đàn ông) với già làng để giải quyết những công việc liên quan đến mọi thành viên trong buôn làng, là nơi tổ chức các lễ (lễ đâm trâu, lễ sửa nguồn nước, lễ bỏ mả, lễ chiến thắng…).
 
Nhà rông của người Bahnar.
Nhà rông của người Bahnar.
Nhà rông được làm bằng những thứ gỗ tốt, nhất là các cột chân chôn lâu năm dưới đất không bị ải mục như gỗ trắc, gụ, mật, giổi xanh… Ngoài ra còn dùng các loại tre, lồ ô, song, mây, nứa, cỏ tranh… Nhà rông là một công trình kiến trúc khá đồ sộ so với nhà ở của đồng bào Tây Nguyên. Tuy nhiên mỗi địa phương, mỗi dân tộc có kiểu nhà rông riêng, phong cách kiến trúc, trang trí hoa văn cũng có sự khác biệt. Chẳng hạn đối với nhà rông của người Bahnar, dù bộ nóc rất cao nhưng chiều ngang của nhà tương đối rộng, góc của mái tam giác đầu hồi lớn nên làm giảm thế vươn lên của nó. Còn đối với nhà rông người Jrai có chiều hướng thu chiều dài lại nâng chiều cao lên, với qui cách đó làm cho nhà rông người Jrai thêm bề thế, hoành tráng hơn.
 
Để tìm hiểu cặn kẽ  từng nét riêng biệt đặc sắc của kiến trúc nhà rông cũng như nghệ thuật trang trí hoa văn, du khách chỉ có thể tham quan thực tế mới hiểu hết được giá trị.

NHO ANH HUNG NUP


Nhớ Anh hùng Núp

 
 
Theo giấy tờ, Anh hùng Núp sinh năm 1914 và đến đầu tháng 7 tới đây, sẽ chẵn 10 năm, kể từ ngày ông mất. Những người dân Gia Lai hồi đó, hẳn chưa quên tang lễ ông, một đám tang đông đúc lạ thường, nếu không muốn nói là kỷ lục về số người đi đưa. Có lẽ, chỉ cần nêu lại con số 178 vòng hoa viếng thôi cũng đã thấy sự ngưỡng mộ, thương tiếc của người đời đối với ông sâu nặng như thế nào.

Anh hùng Núp là huyền thoại giữa đời thường nên sinh thời, xung quanh ông có rất nhiều câu chuyện lý thú. Lạ lùng là trong hàng trăm câu chuyện đủ loại ấy, tuyệt không một ai kể… xấu về ông. Ai cũng khen ông tốt bụng, hiền lành, dễ gần, dễ mến. Hẳn nhiên không phải vì ông là anh hùng, đơn giản là vì, ông vĩ đại cả trong kháng Pháp lẫn sau này, nhất là trong cuộc sống đời thường. Tôi đã đem chút Thắc mắc từ Những câu chuyện tốt đẹp ấy hỏi ông Ngô Thành- một cán bộ lão thành cách mạng, người từng có thời gian khá dài sống cùng Anh hùng Núp trong chiến khu, trước 1975. Ông Ngô Thành đã trả lời không chút đắn đo rằng, ông Núp là người hoàn hảo; ông Núp không phải là “người anh hùng của khoảnh khắc”. Không chỉ anh hùng trong chiến đấu mà trong nếp sinh hoạt hàng ngày, Núp cũng hết sức gương mẫu. Ông Ngô Thành kể lại những kỷ niệm thời sống cùng Anh hùng Núp trong một cơ quan nơi thị trấn Dân Chủ (Kbang), chuyện anh Núp lao động sản xuất hăng hái, chuyện về tính cách cứng rắn trong nhiều việc của ông nhưng khi hay tin Bác Hồ mất, người anh hùng ấy đã không cầm được nước mắt. Thương nhớ Bác, từ núi rừng Tây Nguyên xa xôi, Anh hùng Núp đã để mặc cho râu tóc mình mọc dài trong suốt một trăm ngày, theo tục của đồng bào Bahnar.

Ngay cả khi chưa có mặt trời soi sáng đường đi, quan trọng hơn, không một tấc sắt trong tay, Núp đã anh dũng cùng cộng đồng vượt qua bao gian truân, kiên cường đánh Pháp giữ làng. Có thể nói rằng, suốt cả đời ông, không có mục đích nào tối thượng hơn là bảo vệ sự bình an cho dân làng, no ấm cho mọi người. Vì cách mạng, ông từng được trao giữ một số trọng trách trong hàng ngũ những người lãnh đạo các cấp. Bằng ý chí và nghị lực, Núp đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nhưng theo những người biết chuyện thì giữa chức vụ đi liền với những cuộc họp và được xuống làng, được chan hòa cùng dân làng, dường như ông Núp thích vế thứ hai hơn. Điều này được thể hiện ngày càng rõ hơn, khi đất nước hòa bình, sự đi về làng trở nên dễ dàng hơn đối với ông. Làng, rừng đã trở thành máu thịt trong ông từ rất sớm. Nhà văn Nguyên Ngọc từng kể rằng sau 1954, khi ở Hà Nội, Núp bị mắc chứng bệnh khó thở, mờ mắt. Bao nhiêu bác sĩ giỏi đều bó tay. Sau này, người ta mới biết, ông bị bệnh… thiếu rừng, thiếu lửa. Núp như ngọn gió, Nguyên Ngọc nhận xét như vậy về cái sự hay đi về làng của Anh hùng Núp.

Những năm cuối đời, ông Núp được chăm sóc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh (đường Trần Hưng Đạo ngày nay). Không còn phải giữ chức vụ nào chính thức nhưng như vậy không có nghĩa là ông được nhàn hạ, rảnh rang. Tôi nhớ những năm tháng ấy, ai đến Gia Lai cũng nằng nặc đòi thăm Anh hùng Núp cho bằng được, dù thời gian có eo hẹp đến đâu. Thế nên, gần như suốt cả đêm ngày, ông Núp phải tiếp khách, phải cười để người đến thăm chụp hình chung, bắt tay và… cười. Không cần kể thêm, hẳn nhiều người còn nhớ, khi về già, râu tóc bạc phơ, cộng thêm nụ cười hiền lành ấy nữa, nhìn từ xa, Anh hùng Núp hệt như một tiên ông giữa trần. Một hình ảnh đẹp khó lòng lặp lại!

10 năm rồi, Anh hùng Núp đã đi xa. 10 năm rồi, một vị “già làng Tây Nguyên” thực thụ đã không còn nữa. Nhưng có lẽ, mãi mãi sẽ chẳng ai quên ông, một con người anh hùng hết mực mà cũng hiền hậu, bao dung đến lạ kỳ.
Theo baogialai.vn

DOI THONG DAK PO


Đồi Thông Đăk Pơ


Đồi thông Đak Pơ.
Đồi thông Đak Pơ.
Đak Pơ được thiên nhiên ưu đãi một khu rừng thông tự nhiên và thảo nguyên cỏ tranh cạnh bên đã tạo nên một vị trí  thật hấp dẫn cho đầu tư khu du lịch tại đây, vùng đất này thường được gọi là “Đồi thông Đak Pơ”. Là một rừng thông tự nhiên có hơn  40 năm tuổi, có mật độ khoảng 500 đến 600cây/ha, đường kính cây khoảng 40cm trở lên, cá biệt có một số cây đường kính từ 1m đến 1,5m. Đồi thông nằm ở độ cao trung bình 1.150m so với mặt nước biển, có hệ thống suối chảy qua và nhiều thác nước lớn nhỏ tạo nên quang cảnh tươi đẹp. Khí hậu ôn đới nhiệt độ từ 15- 20oC.
 
Chính sách phát triển kinh tế- xã hội của huyện Đak Pơ đã nhấn mạnh vị trí của đồi thông này có tầm quan trọng trong sự phát triển du lịch chung của tỉnh.
 
Theo baogialai.vn

LAN CAO NGUYEN VE DONG BANG


Lan cao nguyên về đồng bằng

 
Chỉ trong vòng 10 năm, những giò lan rừng tuyệt đẹp “Made in Pleiku” từ nhà vườn Nguyên Long- đã làm mê hoặc những tay sành lan bậc nhất đất Hà thành, Sài thành. Những giò lan rừng thương phẩm ngày nay của Nguyên Long được khởi đầu từ thú chơi tao nhã của một tay lãng tử trót “say” lan ngày nào.  
Ảnh: S.C
Ảnh: S.C
Trên những triền đồi mênh mông đầy nắng gió, bụi mù của xã vùng ven Diên Phú- TP. Pleiku, trang trại lan Nguyên Long nằm khuất sau bạt ngàn cà phê xanh thắm. “Hữu xạ tự nhiên hương” không bảng hiệu phô trương màu mè, không panô vẽ đường chỉ dẫn nhưng người trót đam mê vẻ đẹp thanh tao, thuần khiết của những đoá lan rừng vẫn biết đường… mà tìm đến với Nguyên Long. Bước vào khu nhà kính rộng gần 4.000 m2 với cơ mang hàng ngang, dãy dọc kệ và chậu hoa được bố trí, sắp xếp cực kỳ khoa học, bài bản đã khiến cho khách thăm vườn như lạc vào chốn kỳ hoa dị thảo, bị mê đắm trong sắc màu và mùi hương của hoa thoang thoảng. Trên 10.000 chậu lan nội, 7.000 bụi hồng môn, vài ngàn giò lan ngoại là những con số dễ nhớ nhất đối với anh Long, còn các loại: Đỗ quyên, thu hải đường, môncara, tiểu quỳnh, nhật quỳnh, trạng nguyên, thiên điểu, mai cảnh… đầy vườn không thể nào nhớ xuể. Không chỉ mê lan, hễ thị trường xuất hiện giống cây cảnh nào mới lạ thì nhà vườn Nguyên Long cũng là nơi tiên phong trồng thử, và đặc biệt có những loại cây như “thần kỳ”, “tầm xuân”, “thiên điểu” chỉ duy có nhà vườn của anh  cung cấp cho thị trường Gia Lai.
Ảnh: S.C
Ảnh: S.C
Khởi nghiệp vào nghề chỉ với lưng vốn kiến thức về lan và nỗi đam mê cháy bỏng với dáng vẻ yêu kiều, rực rỡ của “vũ nữ”, “hồ điệp”, “cát lan”… đã khiến một kẻ ngoại đạo, tay ngang như anh Nguyễn Văn Long sau 10 năm lăn lộn, trải nghiệm với nghề đã nhanh chóng đứng vào hàng “đại gia hoa lan” phố núi. Những nhánh lan rừng tả tơi, xác xơ sau chặng đường dài tưởng không còn sinh khí, qua bàn tay biến hoá xảo diệu của ông chủ vườn đã thăng hoa, mang trên mình một đẳng cấp mới. Để đạt được trình độ tay nghề điêu luyện như hôm nay, trang trại Nguyên Long luôn sáng đèn thâu đêm, ông chủ vườn cần mẫn nâng niu từng mầm xanh cây giống, mày mò nghiên cứu, chế tác tạo dáng cho từng giò lan thành phẩm- “mà phải chính tay mình làm nên thì mới ưng ý”.
Ảnh: S.C
Ảnh: S.C
“Kinh nghiệm đôi khi phải đổi bằng sự thất bại của chính mình”, đó là điều anh Nguyễn Văn Long nghiền ngẫm, đúc kết sau ngần ấy năm gắn bó với hoa lan. Khi mới vào nghề, vốn ít, quy mô nhà vườn nhỏ lẻ đã khiến anh Long bao phen vất vả, điêu đứng: “Sau một trận mưa, sáng ra đã không còn nhà vườn, nhà kính gì cả. Mưa to gió lớn đã cuốn phăng tất cả, mình lúc ấy ít vốn nên làm nhà vườn không được kiên cố, quy mô như giờ. Còn cây chết, cây bệnh hàng loạt là chuyện thường, nhiều khi lỗ trắng tay”. Với trang trại hoa lan tư nhân quy mô, anh Long đầu tư vào đó không chỉ tiền bạc, tâm trí và còn cả niềm đam mê cháy bỏng. Từng bậc thang, kệ gióng đều do chính tay anh xây dựng, thiết kế; kỹ tính với khu vườn đến nỗi anh tự mình thao tác, chăm chút tạo kiểu, tạo dáng cho từng giò lan, chậu cảnh. Thế nên, mỗi thương phẩm lan “Made in Nguyên Long” khi xuất ra đều được bạn hàng, khách chơi tín nhiệm, yêu quý.
Ảnh: S.C
Ảnh: S.C
Nghề chơi cũng lắm công phu, với một người tay ngang như Nguyễn Văn Long khi khởi sự vất vả bao nhiêu thì bây giờ, với thương hiệu đã được bạn hàng trong và ngoài tỉnh ghi nhận, bí quyết thành công tưởng như đơn giản mà không dễ thực hiện chút nào. “Phải luôn giữ chữ tín trên từng sản phẩm mình tạo ra”- anh Long tiết lộ, ngay từ khâu chọn giống, chăm sóc, thành phẩm đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật để khi xuất hàng mỗi sản phẩm phải đạt yêu cầu về phẩm chất, màu sắc, kiểu dáng; chăm chút từ khâu đơn giản nhất là chọn chậu, sao cho bền, đẹp và hợp với từng dáng hoa. Một khi đã tạo được chữ tín thì chuyện hoa Nguyên Long luôn “cháy hàng” rất đỗi bình thường, chỉ riêng thị trường hoa Tết Mậu Tý 2009 vừa qua, Nguyên Long đủ sức cung ứng hàng từ trước, trong và sau Tết với lượng hàng xuất đều đều mỗi ngày trị giá vài chục triệu đồng, mang lại niềm tự hào, hạnh phúc cho chính chủ nhân của nó. 

VUON QUOC GIA KON KA KINH


Vườn quốc gia Kon Ka Kinh

 
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh nằm trên vùng giáp ranh giữa Đông và Tây Trường Sơn, về phía Đông- Bắc tỉnh Gia Lai, trong phạm vi địa giới hành chính của các xã: Đak Roong, Kroong, Kon Pne (huyện Kbang), Hà Đông (huyện Đak Đoa) và Ayun (huyện Mang Yang).
 
 
Tổng diện tích 41.780ha, trong đó: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 23.064ha, phân khu phục hồi sinh thái: 19.646ha, phân khu dịch vụ hành chính: 70ha.
 
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có 652 loài thực vật có mạch, đặc biệt là pơmu, 42 loài thú, 160 loài chim, 51 loài bò sát, ếch nhái và 209 loài bướm. Có 110 loài thực vật có thể làm thuốc gia truyền.
 
 
Đây cũng là nơi có khí hậu mát mẻ quanh năm (nhiệt độ 18- 20oC), lại có nhiều quang cảnh đẹp, như: các kiểu sinh thái cảnh rừng trên núi trải rộng theo vành đai cao từ 700-1748m. Đặt biệt quan trọng là 2.000ha rừng hỗn giao  giữa các loài cây lá rộng và lá kim, trong đó có pơmu. Hệ thống sông, suối, thác, ghềnh tạo nên những cảnh quan hấp dẫn, như: Suối Knia, Đak Kơ Bưng, thác Đak Pooc (50)… Đó là những điều kiện vô cùng thuận tiện cho việc đầu tư phát triển khu vực này trở thành địa điểm nghỉ dưỡng núi gắn với tham quan cảnh quan thiên nhiên và tìm hiểu văn hóa truyền thống dân tộc Tây Nguyên.
 
Theo baogialai.vn

GIA LAI - THANH PHO SUONG MU


Gia Lai - Thành phố sương mù



Vị trí địa lý:
Gia Lai là một tỉnh miền núi - biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mặt biển. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

Khí hậu:
Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, chia hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 21ºC - 25ºC. Vùng tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm  từ 2.200 – 2.500mm, vùng đông Trường Sơn từ 1.200 -1.750mm.

Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về miền duyên hải và Cam-pu-chia như sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Vùng đất Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên. Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò "Mộng" trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng - núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt.

Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, có khu Tây Sơn Thượng, căn cứ địa của vua Quang Trung, là quê hương anh hùng Núp. Nhiều địa danh chiến trường xưa của Gia Lai như Pleime, Cheo Reo, La Răng đã đi vào lịch sử.
Tỉnh Gia Lai có cộng đồng nhiều dân tộc chung sống, người Kinh chiếm 52% dân số, còn lại là người Gia Rai (33,5%), Ba Na (13,7%), Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Cơ Ho, Nhắng, Thái, Mường...

Gia Lai là một vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ. Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, múa xoang...trang phục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồng chiêng... Đến Gia Lai du khách còn được xem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) còn nhiều nét nguyên thủy.